Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực 3 miền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực 3 miền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Ẩm thực Miền Trung lôi cuốn hương vị văn hóa

Mảnh đất Miền Trung vốn cằn cỗi là thế và cũng không được thiên nhiên ưu ái như các vùng đất khác, chính vì vậy, con người nơi đây luôn biết trân trọng và biến những sản vật tuyệt vời đó thành những món ăn mang những hương vị rất riêng, mà ai đã một lần thưởng thức nó sẽ không thể nào quên. 
Món cao lầu phố Hội - đặc sản miền trung khó cưỡng

Không đa dạng như lối ẩm thực Bắc Hà, cũng không được phồn thực như lối ẩm thực Nam Hà, ẩm thực Miền Trung có một chiều sâu riêng, mang đậm nét bản sắc của một vùng đất thanh lịch, nhẹ nhàng. Như chúng ta đã biết, văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình càm. khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia…Nó chi phối không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của cộng đồng. Do đó, ẩm thực của cư dân miền Trung rất phong phú, mỗi địa phương đều có những đặc sản riêng, mang đậm bản sắc phong phú và hương vị của từng nơi.
 
Nhắc đến Quảng Nam người ta không thể không nhắc đến món Gà vườn Thơm Thảo đất Tam Kỳ hay món Cao lầu đặc trưng Phố Hội, món mì Quảng đậm đà phong vị, tô Cơm hến cay xé lòng, hay những bữa tiệc thanh cảnh của người Huế. Đó chính là nét đặc trưng trong ẩm thực của người Miền Trung. Nếu một lần đặt chân đến vùng đất nắng gió đầy khắc nghiệt này, bạn cũng đừng quên thưởng thức một chút tình ấm áp của con người nơi đây qua cách mà họ thể hiện bằng những món ăn đậm đà, hấp dẫn.

Trước hết, ta sẽ nói tới ẩm thực xứ Huế - Cái nôi của ẩm thực miền Trung. Người dân Huế vốn nổi tiếng thanh lịch, có lẽ vì thế mà họ tỏ ra rất sành điệu trong việc ăn uống, không chỉ trong khâu chọn nguyên liệu mà còn cầu kỳ từ việc chế biến cho đến cách bày biện trang trí và thưởng thức. Mỗi món ăn đều được nâng lên thành một tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng và quyến rũ ta lúc nào không hay.
Ở nơi đây, ăn uống cũng là một trong những loại hình văn hóa vì thế văn hóa ẩm thực ở Huế được chia ra làm hai loại khác nhau đó là ẩm thực Cung đình và ẩm thực Dân gian. Ẩm thực Cung đình Huế là một trong những nét đặc trưng riêng của văn hóa ẩm thực Miền Trung. Nó không chỉ nổi tiếng bởi cách trình bày mà nó còn đặc sắc về hình thức. Những món ăn trong cung thời đó chỉ dành riêng cho vua chúa triều đình nhà Nguyễn ăn và rất cầu kì về phần chế biến cũng như cách trang trí. Vua ăn thì gọi là Ngự Thiện, dụng cụ ăn của vua gọi là đồ Ngự dụng, đội phục vụ vua ăn gọi là Đội Thượng Thiện.
 
Cơm hến xứ Huế - đặc sản khó cưỡng Huế
Mỗi bữa phải từ ba muơi năm đên năm mươi món, trong đó phải có một món thuộc bát trân như: Nem công, Chả phượng, Da tây ngưu, Bàn tay gấu, Gân nai, Yến sào…Và món nào đặc biệt sẽ được liệt vào danh sách rồi truyền tiếp sang đời sau, cứ thế, món ăn cung đình Huế trở nên phong phú và đa dạng hơn.

Ẩm thực Dân gian Huế là cách chế biến món ăn theo nguyên lý chế biến, trang trí và những thói quen ăn uống rất riêng của người Huế và Một bữa ăn của người Huế như hội tụ đủ cả âm dương, ngũ hành với sự hài hòa đến mức tự nhiên giữa tính chất, mùi vị, màu sắc của các món ăn. Muốn mặn thì có vài chục vị ruốc, ngọt thì có một chuỗi các loại chè, béo thì có Bún bò, đắng thì có Cháo nấm tràm, cay thì dùng cơm hến, Sự đậm đà đó đã tạo nên hượng vị rất đặc trưng trong món ăn Huế.
Những món ăn Huế dù là cao lương mỹ vị hay dân dã đơn sơ, đều làm cho ai đó một lần nếm qua phải xuýt xoa khen ngon đến mức “ ngậm mà nghe”, để rồi lưu luyến mãi cái hương vị khó quên ấy. Đặc biệt, người Huế cũng mê gia vị đến cực đoan. Ngoài màu sắc đẹp, đồ gia vị mang lại cho vị giác nỗi “ thống khổ” của cái ngon. Và trong bè giao hương hàng trăm loại gia vị thì ớt vẫn là vị “ nhạc trưởng” có chiếc mũ đỏ đầy quyến rũ.
Bún bò Huế - món ăn nhanh nổi tiếng thương hiệu

Người Nam – Bắc Hà du lịch Cố đô vẫn cay tít với Huế từ bát bún bò điểm tâm buổi sáng. Rồi Bún hến, Cơm hến, cho đến nước chấm các lọai Bánh khoái, Bánh nâm, Bánh lọc…Tất cả đều cay. Đã có một lần tôi được thưởng thức món Bánh đa hến…Cay thật đó! Nhưng cái cay đó lại khác với vị cay của ngoài Bắc mà nó có một bản sắc, một màu sắc rất riêng của nơi đây. Tôi thầm nghĩ nó đã thêm vào màu sắc tím trong bản màu truyền thống của văn hóa Huế - một màu đỏ chói chang của ớt. Và như vậy, Huế sẽ tưng bừng hơn với màu tím vốn đằm thắm của mình. Nói đến đất Huế thơ mộng với những nét văn hóa ẩm thực phong phú sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới ẩm thực chay xứ Huế.
Các món ăn chay ở Huế rất phong phúc, được chế biến cầu ký và ngon không kém món ăn mặn. Và cùng với các món ăn trong gia đình, Huế còn có những món ăn đặc sản như Bún bò, Giò heo mà nổi tiếng nhất là Bún Gia Hội. Đến với chợ Tuần Lại còn hàng chục loại bánh mặn, ngọt mà ai đã một lần nếm thử, hẳn không quên được món quà đặc sắc chốn Cựu kinh. Đó là loại bánh nổi tiếng gắn liền với các địa danh: Bánh khoái Đông Ba, Bánh bèo Ngự Bình, Bánh canh Nam Phổ, Bánh ướt thit nướng Kim Long…

Đặc biệt khi nhắc đến văn hóa ẩm thực Huế ta cũng không thể không nhắc đến chè Huế. Ở Huế có tới mấy chục loại chè, có những loại chè mang nét sang trọng của chốn Cung đình xưa như chè hạt sen, Chè long nhãn bọc hạt sen, Chè đậu ngự…Mỗi loại chè đều có hương vị khác biệt nhưng đều có vị thơm ngon và rất hấp dẫn đặc biệt là món chè mang sắc tím Huế - chè khoai môn. Tất cả đã làm và hình thành lên một “vương quốc chè”. Chính những phong cách và mang bản sắc đó người Huế đã xem ẩm thực là nhân cách. Và Miền Trung chỉ không dừng lại ở đó mà còn có các bản sắc rất riêng của các vùng miền khác.
Món ngon miền trung - đặc sản chè sen

Nhắc đến Quảng Nam ta sẽ liên tưởng ngay tới món ăn rất đặc trưng của vùng đất này, đó là mỳ Quảng. Mỳ Quảng sinh từ đất Quảng đúng như tên gọi. Nó được coi là món đặc sản dùng để mời khách, hay những cuộc vui như giới thiệu nét văn hóa của người dân đất Quảng. Tuy nước dùng không nhiều như nước phở Bắc nhưng lại rất ngọt và đậm đà.

Còn khi nói đến các món ăn ở phố cổ Hội An, không ai có thể bỏ qua món Cao lầu. Trong những ngày Tết se lạnh, đi bộ vòng quanh Phố cổ, sẽ không khó để chúng ta thấy những quán ăn cổ kính, những cô tiếp viên mặc áo dài màu trầm và cái tên "Cao lầu" trong menu đứng cửa. Cao lầu từ lâu đã được nhắc đến như món ăn tiêu biểu góp phần làm nên cái hồn ẩm thực còn đọng lại nét xưa của phố Hội. Vậy thực chất, món Cao lầu là gì? Đó chính là một món mỳ mà đã từ rất lâu được xem là món ăn đặc sản của Hội An. Cao lầu có sợi mỳ màu vàng, được dùng với tôm, thịt heo và các loại rau sống. Cũng giống như món mỳ Quảng, Cao lầu được ăn với rất ít nước dùng. Một điểm đặc biệt của món Cao lầu đó là sợi mỳ có màu vàng ươm, do được trộn với tro củi tràm, được lấy từ mảnh đất Cù Lao Chàm. Phải một lần đặt chân đến đất Hội An, cảm nhận không gian nhỏ nhắn và cổ kính nơi đây và thưởng thức một bát Cao lầu thơm nóng mới có thể thấm nhuần phần nào hương vị của một vùng đất xưa tinh túy của Việt Nam.

Các nguyên liệu như Mạch nha, Đường phổi, Đường phèn đã giúp tôn vinh món chè hạt sen của người Huế tao nhã. Một nét hấp dẫn khác của Quảng Ngãi là những món ăn không giống bất cứ ở vùng nào trên cả nước, đó là cá Bống sông Trà, Chim mía, Kẹo gương, Mạch nha, Đường phổi và Món Don… tất cả rất đậm đà hương vị của một miền quê.
Còn Bình Định được các địa phương trong nước mến mộ không chỉ vì hùng khí "Tây Sơn" một thời mà còn có một nét ẩm thực cũng vô cùng phong phú.

Bánh ít lá gai - cái tên nghe dân dã mà chứa đựng bao nhiêu ý nghĩa. Vị dẻo thơm, ngọt bùi của chiếc bánh đã trở thành dư vị khó quên trong lòng những ai đã từng nếm qua thứ bánh ấy. Bánh ít lá gai là đặc sản của đất võ Bình Định, về sau lan rộng ra các tỉnh thành và trở nổi tiếng trong văn hóa ẩm thực miền Trung. Dù đi đâu xa, người con xứ sở vẫn không quên dáng hình những chiếc bánh trông tựa như tháp Chàm cổ kính. Cũng như ở vùng biển vào dịp trời yên bể lặng ta sẽ được thưởng thức món ăn đặc sản gỏi cá Phường Mét (Mỹ Thắng), nhớ Gỏi cá thu. Gỏi cá thường dùng cá cơm, cá thu, cá rựa… xắt nhỏ lạng bỏ xương (trừ cá cơm) ướp với nước mắm ngon và gia vị, nhúng vào lẩu nước dấm, nước dừa đun sôi rồi vớt ra bát ăn với rau mùi, bánh tráng, nhấm tí rượu Bầu Đá, còn gì thú vị hơn.

Chỉ cần liệt kê ra thôi mà mỗi người chúng ta đã muốn một lần được về Miền Trung thưởng thức những món ăn vùng đất này. Tuy tôi là một người con gái Bắc, đã từng rất quen thuộc với tô Phở bò hay “ Canh rau muống” “Cà dầm tương” nhưng khi được một lần đặt chân nên mảnh đất thân thương này thì khó lòng quên được những hương vị ẩm thực đó. Mỗi vùng đất trên dải đất chữ S xinh xinh nằm e lệ như cô gái xuân dậy thì bên ven bờ Thái Bình Dương ngoài những đặc điểm chung, lại có lối ẩm thực riêng mang sắc thái và đặc trưng của vùng đất đó.

Bên cạnh lối ẩm thực cầu kỳ mang tính Cung đình, nặng về lễ nghi lại có lối ẩm thực rất bình dân, dung dị, đơn giản. Có ẩm thực sang trọng nhưng cũng có ẩm thực đường phố. Tuy nhiên không có nghĩa là ẩm thực đường phố kém giá trị, kém hấp dẫn và ít ngon, ít bổ dưỡng hơn ẩm thực sang trọng. Văn hóa ẩm thực Miển Trung hội tụ cả hai loại ẩm thực trên một cách hài hòa và tinh tế. Nó không chỉ bổ ích đối với ai muốn tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt nam và còn bổ ích với những ai quan tâm đến Văn hóa Việt Nam 
Sưu tầm

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Tìm hiểu ý nghĩa xôi ngũ sắc


Xôi ngũ sắc là món ngon đặc sản của núi rừng Tây Bắc. Bằng các thứ lá cây rừng và gạo nếp nương, người miền núi Tây Bắc đã sáng tạo ra một món ăn vô cùng đẹp mắt và độc đáo. Theo quan niệm của một số đồng bào các dân tộc thiểu số như: Cao Lan, Tày, Nùng, Thái,… ở khu vực miền núi phía Bắc thì mỗi màu sắc thể hiện những ý nghĩa triết lý vũ trụ, nhân sinh trong ‘‘ngũ hành”. 
Những ai đã được tận mắt nhìn thấy vẻ đẹp của mâm xôi ngũ sắc, ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt và được nếm miếng xôi dẻo quánh, béo ngậy chắc hẳn sẽ không thể quên được món ăn vừa đẹp mắt lại vừa ngon miệng này. 

 xôi ngũ sắc được tạo nên bởi năm loại xôi với năm màu khác nhau

Gọi là xôi ngũ sắc vì khác với các loại xôi thông thường, xôi ngũ sắc được tạo nên bởi năm loại xôi với năm màu khác nhau. Đó là màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu tím và màu trắng Cách chế biến xôi ngũ sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc cơ bản giống nhau. Tuy nhiên, tùy điều kiện từng vùng, họ có thể pha trộn hoặc dùng các màu khác nhau ngoài những màu cơ bản trên để tạo nên xôi ngũ sắc
Nguyên liệu làm xôi ngũ sắc gồm

Nguyên liệu làm xôi ngũ sắc gồm: Gạo nếp thơm dẻo, hạt đều không lẫn tẻ, trộn với các loại lá cây rừng để nhuộm màu. Màu đỏ dùng quả gấc, lá cơm đỏ. Màu xanh dùng lá gừng, lá cơm xôi xanh, hoặc vỏ bưởi, vỏ măng đắng, đốt lấy tro ngâm với nước có pha chút vôi. Màu vàng dùng củ nghệ già giã lấy nước. Màu tím dùng lá cơm đen, hoặc lá cây sau… Trước khi nhuộm màu xôi, gạo nếp vo sạch đem ngâm trong nước lã từ 6 - 8 giờ để hạt gạo có độ nở vừa phải. Chia gạo ra thành 5 phần, mỗi phần tương ứng với một màu.

Sau khi nhuộm màu, đến công đoạn cuối cùng là đồ xôi. Khâu này đòi hỏi phải thật khéo léo mới có được món xôi như ý. Gạo ngâm màu nào dễ phai nhất được cho vào chõ đầu tiên, kế đến là các màu còn lại, màu trắng trên cùng. Phải đồ mỗi màu một chõ riêng. Có nơi bày thành bông hoa 5 cánh, mỗi cánh một màu, có nơi bày theo hình ruộng bậc thang, mỗi bậc một màu, có nơi dùng khuôn gỗ đóng thành tháp, nhiều tầng…
Xôi ngũ sắc còn là đặc sản mà khi du lịch đến vùng cao Tây Bắc
Xôi ngũ sắc còn là đặc sản mà khi du lịch đến vùng cao Tây Bắc bạn nên thưởng thức
Với màu sắc hấp dẫn, hương vị đặc trưng của gạo nếp nương, thêm những mùi vị rất riêng của các loại lá rừng tạo cho xôi ngũ sắc có những dư vị thật độc đáo và khác lạ. Điều đặc biệt hơn, đây không chỉ đơn thuần là món ăn, mà còn là tinh hoa văn hóa ngàn đời. Mỗi màu sắc trong xôi đều mang ý nghĩa triết lý riêng. Theo quan niệm của người Cao Lan, năm màu tương ứng với “ngũ hành” có sự tương sinh, tương khắc. Màu đỏ tượng trưng cho hỏa, đen là màu của thủy, trắng là màu của kim, vàng là màu của thổ, xanh hay tím tượng trưng cho mộc. Đặc biệt, vào dịp Tết, người Cao Lan còn làm xôi với đề tài chúc tụng, mừng Xuân, cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với gia đình, bản thân như xôi có chữ “Phúc – Lộc – Thọ”...
 
Với người Tày, xôi ngũ sắc là món ăn truyền thống vào các dịp cúng giỗ, cưới hỏi, vào nhà mới và các ngày Tết mồng 5 tháng 5, ngày rằm tháng Bảy hằng năm… Đồng bào Tày quan niệm, nếu xôi nhà ai pha chế màu chuẩn, đẹp thì được xem là người khéo tay, làm ăn phát đạt.  

Với người Thái, mỗi màu xôi, ngoài việc thể hiện “ngũ hành”, còn thể hiện khát vọng yêu thương, tình yêu son sắt, thủy chung, lòng yêu mẹ, kính cha. Xôi màu đỏ tượng trưng cho khát vọng sống, cho những ước mơ. Xôi màu tím tượng trưng cho đất đai trù phú, quý giá. Xôi màu vàng tượng trưng cho sự no ấm và phồn thịnh. Xôi màu xanh tượng trưng màu của núi rừng Tây Bắc, màu của bầu trời xanh bao la. Xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng, thủy chung... Cách trình bày 5 màu xôi trên một mâm có hình cánh hoa ban còn thể hiện tình yêu thương, lòng tôn kính đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Sau khi trình bày, cùng với những món ăn khác, mâm xôi ngũ sắc được kính cẩn đặt lên bàn thờ tổ tiên, rồi sau đó mới mang xuống để mọi người thưởng thức. Xôi ngũ sắc thường ăn với chả thịt nướng hoặc ăn không cũng đã ngon rồi!
Internet

Cơm lam

Cơm lam là loại cơm được làm từ gạo- Cơm lam là loại cơm được làm từ gạo (thường là gạo nếp) cùng một số nguyên liệu khác, cho vào ống tre, giang, nứa v.v. và nướng chín trên lửa. Cơm đặc trưng của các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam, Tây Nguyên và một số dân tộc tại Lào.
*Nguyên liệu và quy trình thực hiện*
- Nguyên liệu làm cơm lam bao gồm gạo, ống nứa (tre), lá chuối. Ngoài ra có thể còn có dừa nạo, nước cốt dừa, vừng trộn lẫn gạo trước khi nướng. Cũng đôi khi, tại một số vùng miền sắn, khoai, ngô, được chặt miếng nhỏ nhồi vào ống để nướng thay cho nguyên liệu chính là gạo.
- Lấy gạo bỏ vào một chiếc ống giang một đầu hở, sau đó dùng lá chuối bịt kín lại rồi đốt. Nhưng nấu cơm lam thực ra không chỉ đơn giản như vậy. Ống giang dùng nấu cơm lam phải còn tươi để khi cơm chín, hạt cơm quyện thêm một chút vị ngọt và mùi đặc trưng của tre. Nứa thường được chọn giang bánh tẻ, non quá hay già quá đều không được.
- Đốt lên một đống lửa, chờ thật đượm, sau đó đặt lên trên một chiếc kiềng và xếp các ống Lam trên đó. Trong khi nấu không quên xoay đi xoay lại những chiếc ống Lam như khi nướng bắp. Khoảng một tiếng đồng hồ thì ăn được. Thực tế, theo kinh nghiệm của những người dân tộc thì khi nghe mùi thơm từ ống Lam bay ra là biết cơm chín hay chưa mà không cần mở nắp.
- Khi cơm chín, chẻ bỏ lớp cháy đen bên ngoài ống cơm thật khéo léo cho đến khi bao bọc phần ruột cơm chỉ là một lớp lạt giang mỏng. Xắt mỗi ống ra thành năm hay bảy khúc. Khi ăn chỉ cần bóc bỏ lớp lạt giang bên ngoài.
- Cơm lam được dọn ra ăn cùng với thịt gà hay thịt lợn rừng nướng (những thứ thịt này cũng được nướng trong ống tre). Tuy nhiên, cơm lam ngon nhất khi ăn với muối vừng (mè)

Bún đậu & mắm tôm

Bún đậu mắm tôm hay bún đậu phụ mắm tôm là món ăn đơn giản, dân dã trong ẩm thực miền Bắc Việt Nam. Đây là món thường được dùng như bữa ăn nhẹ, ăn chơi. Người miền Bắc đam mê bún đậu mắm tôm lắm. Không cần nói ra mà ai ai cũng biết món ăn có vẻ hơi “nặng mùi” đó nổi tiếng đến mức nào. Bún đậu được bán ở khắp nơi, từ gánh hàng rong, những con ngõ nhỏ đến hàng quán khang trang. 

Đối với những người dân Hà thành có niềm yêu thích với bún đậu mắm tôm, cứ mỗi khi nhắc đến món ăn này là lại nhớ ngay đến các quán nổi tiếng bao lâu nay như bún đậu Ngõ Trạm, Ngõ Gạch hay ngõ Tràng Tiền.Có thể nói, bún đậu mắm tôm luôn được coi là một nét ẩm thực mang màu sắc rất riêng, đặc trưng của người Hà Nội.
Những gánh bún đậu có mặt trên khắp các ngõ ở Hà Nội
Từ các gánh hàng rong trên các con phố, bún đậu mắm tôm cũng dần dần theo chân người sành ăn đến các nhà hàng sang trọng. Từ miền Bắc với những hình ảnh mẹt bún quen thuộc, ngày nay bún đậu mắm tôm cũng đã có mặt khắp mọi miền đất nước. Một trong những nơi đón nhận mạnh mẽ món quà vặt làm nức lòng người miền Bắc này là Sài thành. Hương vị gần như được giữ nguyên khiến bao người xa xứ như đang được ở những con ngõ ngang dọc của Hà Nội.
Bún đậu mắm tôm ngon

Bún đậu mắm tôm ngon, thì tất nhiên từng món riêng như bún, đậu, và mắm tôm cũng đều phải ngon. Thành phần chính cho món bún đậu mắm tôm bao gồm bún tươi, đậu phụ rán vàng, mắm tôm chanh ớt ăn kèm rau kinh giới. Dù có thêm nhiều biến tấu, nhưng vấn đề tiên quyết là đậu phụ và mắm tôm không ngon, thì không thể được gọi là bún đậu!
Đậu phụ rán - nguyên liệu ngon làm bún đậu mắm tôm

Đậu phụ được chọn là loại đậu mềm, trắng, béo ngậy. Từng miếng đậu mềm mịn, béo ngậy được chiên khéo léo ngập dầu có pha tí mỡ gà với lửa lớn nên vỏ ngoài có màu vàng rộm, giòn tan, mà ruột bên trong lại chỉ vừa độ chín tới. Miếng đậu chiên ngon là phải vừa thơm bùi, vừa giòn vỏ còn nguyên vị mềm béo thơm lừng của đậu tương. Ăn một miếng, lại muốn thêm miếng nữa, chẳng mấy chốc mà hết cả mẹt đậu ăm ắp.
Chả cốm thì khác, được chiên khi dầu thật sôi để lớp cốm nếp nở bung. Miếng chả thành phẩm như căng phồng lên, thơm đậm đà mùi thịt mà không hề bị bám mỡ. Thịt chân giò thì được cuốn chắc, luộc trong nước gừng tươi từ sáng nên lớp da giòn rụm mà lại rất thơm. Tất cả gộp lại thành một món ăn thanh đạm mà vẫn đậm đà, đúng bản sắc Hà thành.
Thịt chân giò được cuốn chắc, luộc trong nước gừng tươi từ sáng nên lớp da giòn rụm mà lại rất thơm
Thịt chân giò được cuốn chắc, luộc trong nước gừng tươi

Nếu nói đậu cốt yếu thì mắm tôm cũng chẳng bao giờ chịu thành thứ yếu. Không phải ai cũng ăn được mắm tôm, nhưng một khi đã biết ăn, thì chỉ có con đường duy nhất là…nghiện. Mắm tôm chính hiệu để ăn với bún đậu phải được đặt từ những lò làm mắm gia truyền ở Thanh Hóa. Mắm tôm có màu ửng hồng (tránh chọn loại mắm đỏ hay mắm đen). Có quán còn tinh tế hơn, sơ chế mắm với đường hoa mai, rượu nếp cái hoa vàng, hoặc chút gừng cay giúp những người lạnh bụng ăn chẳng phải lo.
Bí quyết chính để có mắm tôm ngon

Mắm thơm và dậy mùi chứ không nồng, nặng mùi, được pha chế thêm với đường và bột ngọt. Bí quyết chính để có mắm tôm ngon là khi múc ra chén, người bán rưới thêm vào chén mắm một lớp mỡ chiên đậu. Nhờ vậy mà chén mắm có màu sóng sánh, ngon đến vô cùng... Rồi thực khách tự nêm nếm với chanh (hoặc tắc), ớt tươi xắt nhỏ... cho đủ vị chua cay mặn ngọt.
bún ăn với đậu rán mắm tôm phải là loại bún Phú Đô
Với người Hà thành, bún ăn với đậu rán mắm tôm phải là loại bún Phú Đô nức tiếng, vắt thành nắm và cắt ra cho vừa một gắp. Còn rau thơm ăn kèm phải đúng loại rau làng Láng, bao gồm kinh giới, húng quế và tía tô loại lá nhỏ.
Tất cả các thức được bày trên cái mẹt nhỏ có lót lá chuối, dân dã mà lại có một sức hút khó cưỡng. Có lẽ bởi trong yếu tố bình dân đã làm nổi bật lên hương vị mạnh mẽ mà khó có món ăn sang trọng nào có được. Bởi thế nên du khách đến Hà Nội đều háo hức muốn ăn thử, và người Hà Nội đi xa cũng muốn tìm về hương vị mộc mạc ấy
Internet

Bánh giầy

Bánh giầy - món ngon miền bắc
- Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn.

- Bánh có thể được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch (ngày giổ tổ Vua Hùng).

- Cùng với bánh chưng, bánh giầy có thể tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Nó có màu trắng, hình tròn, được coi là đặc trưng cho bầu trời trong tín ngưỡng của người Việt. Tuy nhiên, Trần Quốc Vượng nói rằng bánh chưng và bánh giầy tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam. [1]

- Các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, như H'Mong, Dao, Mường cũng có bánh dày; tuy rằng họ không gói bánh chưng. Thay cho bánh chưng, họ gói bánh ú hay bánh tét, loại bánh hình tròn dài, mà theo giải thích của Trần Quốc Vượng là phù hợp với quan niệm tín ngưỡng phồn thực.

- Người Nhật cũng có món bánh tương tự như bánh giầy mà họ gọi là "mochi".

*Cách làm*
- Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi có được một khối bột nếp chín dẻo quánh. Đây là công việc đòi hỏi sức vóc, thường chỉ nam thanh niên làm vì bột nếp chín đặc biệt dính và quánh, việc nhấc chày lên cũng không đơn giản. Nếu giã không nhuyễn hẳn ăn còn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị "lại" bánh. Thường thường người ta có thể dùng chút mỡ lau vào đầu chày giã cho đỡ bị bết dính, nhưng óc lợn hấp chín được sử dụng cho mục đích này nhiều hơn.

*Sử dụng và bảo quản*
- Bánh dày loại phổ biến nhất là loại bánh dày trắng không nhân, nhỏ bằng lòng bàn tay, nặn hình tròn dày chừng 1 đến 2 cm. Cứ 2 cái bánh thì thành một cặp. Người mua có thể chọn mua một cái hay cả cặp và thường kẹp ăn chung với giò lụa, giò bò, chả quế, ruốc,...

- Có một địa danh gắn liền với bánh dày, đó là bánh dày Quán Gánh (trên đường từ Hà Nội đi Hải Dương). Khi đi qua địa danh giáp Hà Nội này, người ta thường gặp nhiều sạp bán bánh dày Quán Gánh. Loại bánh này thường bán thành một cọc gồm 5 bánh, nhân mặn hoặc nhân ngọt, gói trong lá chuối tươi.

- Các loại bánh của nông thôn miền Bắc Việt Nam kể trên thường để không được lâu, có lẽ chỉ một ngày là se mặt hoặc lại gạo, hoặc ôi thiu.

- Với loại bánh dày của người vùng cao thì khác. Bánh được chế biến cùng cách kể trên mỗi dịp Tết, song được nặn to như cái bánh đa. Bánh được trữ trên gác bếp, để khô cả năm trời và là món ăn quý. Mỗi khi dùng, người ta xắt bánh ra thành miếng nhỏ, rồi nướng phồng trên bếp than như bánh tổ.